NỘI QUY
BAN THƯỜNG TRỰC QUỐC HỘI
HỘI NGHỊ BAN THƯỜNG TRỰC QUỐC HỘI
 ĐÃ THÔNG QUA NGÀY 7-2-1950

 

I. HỌP VÀ BIỂU QUYẾT

Điều 1. Trong thời kỳ kháng chiến, Ban Thường trực Quốc hội họp ít nhất 3 tháng 1 lần.

Điều  2. Phải có quá nửa tổng số ủy viên, buổi họp mới có giá trị.

Điều 3. Những nghị quyết phải được quá nửa số phiếu. Gặp trường hợp phiếu thuận và kháng ngang nhau, thì phiếu của vị Trưởng ban hay Quyền Trưởng Ban ở bên nào là bên ấy thắng.

Điều 4. Gặp trường hợp không họp được toàn ban, Trưởng Ban có thể lấy nghị quyết bằng cách trưng cầu ý kiến theo lối gửi thư. Khi bỏ phiếu theo lối gửi thư mỗi Nghị quyết phải được quá nửa tổng số ủy viên tán thành mới có giá trị.

Điều 5. Các buổi họp phải có biên bản.

II. THƯỜNG VỤ

Điều 6. Thường vụ của Ban Thường trực Quốc hội gồm có 5 người do toàn Ban bầu cử:

1 Trưởng Ban,

2 Phó Trưởng Ban,

1 Tổng thư ký,

1 Uỷ viên thường vụ.

Nếu cần, một Phó Trưởng Ban có thể kiêm Tổng thư ký. Gặp trường hợp đó, sẽ có 2 ủy viên thường vụ.

Nếu Trưởng Ban bị ngăn trở, Ban Thường trực sẽ bầu một Quyền Trưởng Ban tạm thay.

Gặp trường hợp cấp bách Trưởng Ban (hay Quyền Trưởng Ban) Tổng thư ký và 1 Phó Trưởng Ban họp lại cũng có đủ quyền hạn của thường vụ.

Điều 7. Thường vụ họp ít nhất 1 tháng 1 lần.

Điều 8. Quyền hạn của Thường vụ:

a) Thay mặt Ban Thường trực Quốc hội bên cạnh Chính phủ (Thường vụ sẽ họp trước những phiên Hội đồng Chính phủ để bàn về những vấn đề mà Chính phủ hỏi ý kiến, và xét những đề nghị của các đại biểu địa phương hoặc của nhân dân do tiểu ban kiến nghị thu thập).

b) Thông qua những dự án sắc lệnh do Chủ tịch nước Việt Nam hỏi ý kiến. Những sắc lệnh được thông qua phải được báo cáo ở phiên họp gần nhất của Ban Thường trực.

c) Giải quyết công việc hàng ngày của Ban Thường trực,

d) Thảo ngân sách của Ban Thường trực.

e) Điều khiển văn phòng của Ban Thường trực,

g) Triệu tập các phiên họp của Ban Thường trực.

Điều 9. Gặp trường hợp cần kíp, không đủ số ủy viên để họp toàn Ban, Thường vụ cùng với các trưởng tiểu ban có thể họp hội nghị thường vụ mở rộng để giải quyết các công việc.

Điều 10. Khi Chính phủ xin phép truy tố một đại biểu Quốc hội nếu cần kíp, Thường vụ có thể thay mặt Ban Thường trực mà quyết định, nhưng phải báo cáo trong phiên họp gần nhất của Ban Thường trực.

III. CÁC TIỂU BAN

Điều 11. Tùy theo cần thiết, Ban Thường trực sẽ lập những tiểu ban để làm việc. Ban Thường trực sẽ định thời hạn cho các tiểu ban. Các trưởng tiểu ban do Ban Thường trực bầu ra.

Điều 12. Mỗi ủy viên chỉ có thể làm trưởng một tiểu ban. Mỗi ủy viên chỉ có thể có chân trong hai tiểu ban là cùng.

Điều 13. Các tiểu ban có thể mời những cố vấn chuyên môn giúp việc. Các cố vấn không có quyền quyết định.

Điều 14. Các tiểu ban tự định lấy nội quy nhưng phải được Thường vụ hoặc Ban Thường trực đồng ý. Thường vụ phải giúp đỡ và chịu trách nhiệm về các tiểu ban.

IV. CÁC ỦY VIÊN

Điều 15. Các ủy viên phải tới dự các phiên họp trừ trường hợp bị ngăn trở có lý do.

Điều 16. Nếu có 1/3 tổng số ủy viên yêu cầu, Thường vụ phải triệu tập phiên họp của toàn Ban Thường trực.

 

Lưu tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III.

Về trang mục lục

Trở về đầu trang