NỘI QUY KỲ HỌP THỨ 12, QUỐC HỘI KHÓA I

TỪ NGÀY 11 ĐẾN NGÀY 15-4-1960

 

Chương I

CÁC TỔ CHỨC CỦA KỲ HỌP

Điều 1. Trong kỳ họp, Quốc hội sẽ bầu ra Chủ tịch đoàn, Thư ký đoàn và các Tiểu ban.

TIẾT 1. CHỦ TỊCH ĐOÀN VÀ THƯ KÝ ĐOÀN

Điều 2. Chủ tịch đoàn gồm từ 12 đến 15 người và có nhiệm vụ:

1- Điều khiển kỳ họp Quốc hội và các tổ chức của kỳ họp.

2- Sắp đặt chương trình các phiên họp.

3- Liên lạc với Chính phủ, các Tiểu ban và các đại biểu Quốc hội để chuẩn bị các báo cáo, thuyết trình, tham luận.

4- Duyệt biên bản các phiên họp Quốc hội và các tài liệu để đưa ra Quốc hội hoặc để công bố.

5- Bảo đảm kỷ luật và trật tự của kỳ họp Quốc hội.

6- Thay mặt Quốc hội để giao dịch với ngoài về mọi công việc thuộc kỳ họp.

Điều 3. Chủ tịch đoàn cử một số người làm Thường vụ Chủ tịch đoàn, triệu tập và điều khiển Hội nghị Chủ tịch đoàn.

Chủ tịch đoàn cử người luân phiên điều khiển các phiên họp Quốc hội.

Điều 4. Thư ký đoàn gồm 5 người và có nhiệm vụ:

1- Theo dõi các cuộc thảo luận ở Hội nghị Quốc hội, làm biên bản, thông cáo và thảo các văn bản khác.

2- Gìn giữ và bảo vệ các tài liệu của kỳ họp Quốc hội cho đến lúc giao lại Ban Thường trực Quốc hội.

3- Giúp Chủ tịch đoàn chủ trì Hội nghị báo chí nếu có, cung cấp cho báo chí tin tức, tài liệu đã được Chủ tịch đoàn cho phép công bố.

Giúp việc Thư ký đoàn có Văn thư Quốc hội.

Điều 5. Thư ký đoàn cử một Trưởng đoàn và phân công liên lạc với Chủ tịch đoàn, các Tiểu ban, các Đoàn đại biểu Quốc hội, các đại biểu Quốc hội, các báo chí, các đoàn thể, Văn thư Quốc hội v.v..

Trưởng đoàn Thư ký thay mặt Đoàn khi cần thiết.

TIẾT 2. CÁC TIỂU BAN

Điều 6. Số Tiểu ban và số người của mỗi Tiểu ban sẽ được Quốc hội quyết định tùy theo nhu cầu công việc.

Tiểu ban có nhiệm vụ nghiên cứu đề án, theo dõi tình hình thảo luận ở các Đoàn đại biểu, làm thuyết trình, dự thảo nghị quyết để đưa ra Quốc hội thảo luận và biểu quyết.

Điều 7. Mỗi Tiểu ban cử ra một Trưởng Tiểu ban, một Phó Tiểu ban và một thuyết trình viên.

Điều 8. Các Tiểu ban họp không có công chúng và nhà báo dự thính.

Các đại biểu Quốc hội không có chân trong Tiểu ban có thể tham dự các phiên họp của Tiểu ban và tham gia thảo luận nhưng không biểu quyết.

Tiểu ban có thể đề nghị Chủ tịch đoàn mời đại diện Chính phủ đến báo cáo hoặc chuyên viên đến giúp ý kiến, những người này không tham gia thảo luận trong Tiểu ban.

Công việc xong, các biên bản, tài liệu của Tiểu ban phải chuyển cho Thư ký đoàn.

Điều 9. Việc công bố tình hình thảo luận và các vấn đề thảo luận trong Tiểu ban do Chủ tịch đoàn quyết định.

Chương II

CÁCH LÀM VIỆC CỦA QUỐC HỘI

TIẾT 1. CÁC PHIÊN HỌP TOÀN THỂ

Điều 10. Trong mỗi phiên họp, phải có mặt quá nửa số đại biểu Quốc hội được triệu tập, thì cuộc thảo luận và biểu quyết mới có giá trị.

Số ấy phải được công bố trước mỗi phiên họp.

Điều 11. Quốc hội họp công khai, có công chúng và nhà báo dự thính, theo giấy mời của Ban Thường trực Quốc hội.

Điều 12. Quốc hội có thể họp kín nếu có đề nghị của Chủ tịch đoàn, của Chính phủ hoặc của ít nhất nửa số đại biểu Quốc hội có mặt.

Nội dung cuộc họp kín không được công bố và tiết lộ. Đại biểu Quốc hội có nhiệm vụ giữ bí mật, đại biểu nào tiết lộ bí mật sẽ chịu hoàn toàn trách nhiệm.

TIẾT 2. CÁCH THẢO LUẬN VÀ BIỂU QUYẾT

Điều 13. Đối với mỗi vấn đề đưa ra thảo luận, đại diện Tiểu ban thuyết trình trước.

Sau đó, các đại biểu Quốc hội đọc tham luận tại diễn đàn hoặc phát biểu ý kiến tại chỗ, nhân danh cá nhân mình hoặc nhân danh đại diện một đoàn thể, một nhóm.

Đại biểu nào muốn đọc tham luận cần báo trước Chủ tịch đoàn. Mỗi bài tham luận không quá 15 phút; nếu cần dài hơn thì phải báo Chủ tịch đoàn biết trước. Tham luận cần ghi ngày tháng và tên. Đọc xong, giao cho Thư ký đoàn.

Các đại biểu có chuẩn bị tham luận nhưng không muốn hoặc không có hoàn cảnh đọc trước Quốc hội, mà lại muốn được Chủ tịch đoàn sử dụng làm tài liệu tham khảo, thì sẽ nộp Chủ tịch đoàn bản tham luận đó có chữ ký của mình.

Đại biểu nào muốn phát biểu ý kiến tại chỗ thì giơ số của mình lên để Thư ký đoàn ghi. Mỗi lần phát biểu không quá 5 phút, Chủ tịch đoàn có quyền cắt nếu đại biểu nói quá giờ hay không đúng vấn đề.

Điều 14. Sau khi cuộc phát biểu ý kiến và thảo luận kết thúc, đại diện Tiểu ban, căn cứ theo kết quả cuộc thảo luận, chỉnh dự thảo nghị quyết và đọc toàn văn dự thảo nghị quyết được tu chỉnh để Quốc hội biểu quyết.

Điều 15. Tùy từng vấn đề, Quốc hội sẽ định cách biểu quyết bằng cách giơ tay hay bỏ phiếu.

Chỉ đại biểu có mặt mới được bỏ phiếu.

Điều 16. Các nghị quyết của Quốc hội phải được đa số tương đối. Trong trường hợp số phiếu thuận và không thuận ngang nhau, Quốc hội sẽ thảo luận lại. Sau khi Quốc hội thảo luận và biểu quyết lại, nếu số phiếu hai bên vẫn ngang nhau thì là phiếu của Chủ tịch điều khiển phiên họp ở bên nào là bên ấy thắng.

Biểu quyết xong, Chủ tịch đoàn tuyên bố kết quả.

Nếu biểu quyết bằng cách bỏ phiếu, thì Chủ tịch đoàn phải tuyên bố tổng số phiếu, số phiếu thuận, số phiếu không thuận, số phiếu trắng, số phiếu không hợp lệ.

TIẾT 3. CHẤT VẤN

Điều 17. Đại biểu Quốc hội ghi rõ các điều chất vấn Chính phủ và Ban Thường trực Quốc hội vào giấy đưa Thư ký đoàn để Chính phủ và Ban Thường trực Quốc hội sắp xếp và chuẩn bị trả lời.

Điều 18. Nếu Chủ tịch đoàn xét thấy điều chất vấn thuộc phạm vi bí mật quốc gia mà trong hoàn cảnh hiện tại đưa ra không có lợi, thì Chính phủ hoặc Ban Thường trực Quốc hội yêu cầu được miễn trả lời. Song nếu đa số đại biểu Quốc hội xét cần được biết, thì Chính phủ hoặc Ban Thường trực Quốc hội sẽ trả lời trong một phiên họp kín.

Chương III

CÁC ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI

Điều 19. Các đại biểu Quốc hội có thể ghép thành đoàn theo đơn vị tuyển cử, để tiện trao đổi ý kiến, nghiên cứu các vấn đề.

Mỗi đoàn sẽ bầu ra một Trưởng đoàn, hai Phó đoàn để liên lạc với các tổ chức của kỳ họp.

Điều 20. Việc tham gia vào tổ chức và sinh hoạt các Đoàn không phải là một việc bắt buộc đối với mỗi đại biểu Quốc hội.

Điều 21. Tại hội trường, đại biểu vẫn giữ quyền phát biểu ý kiến riêng của mình. Các đoàn có thể cử người phát ngôn để phát biểu ý kiến chung của Đoàn.

Điều 22. Các đại biểu Quốc hội không có chân trong các Tiểu ban có thể tự mình nghiên cứu các vấn đề, hay nghiên cứu chung ở Đoàn và góp ý kiến với các Tiểu ban bằng lời nói hoặc bằng viết.

Chương IV

TRẬT TỰ, KỶ LUẬT

Điều 23. Đại biểu Quốc hội đến hội trường phải đeo huy hiệu và ngồi theo khu vực quy định cho đoàn mình.

Điều 24. Không ai được mang vũ khí vào phòng họp.

Điều 25. Đại biểu Quốc hội phải theo đúng nội quy, giữ trật tự trong phiên họp. Nếu phạm những điều đã ghi trong nội quy này, thì Chủ tịch đoàn sẽ tùy trường hợp mà nhắc nhở hoặc phê bình trước Quốc hội.

Nếu đại biểu Quốc hội nào đã bị phê bình nhiều lần mà vẫn không tôn trọng kỷ luật hội nghị, thì Chủ tịch đoàn, vì phải bảo đảm cho phiên họp, có thể đề nghị Quốc hội cho mời ra khỏi phòng họp.

Đại biểu Quốc hội phạm lỗi chỉ có thể trở lại tham dự phiên họp đó nếu được Quốc hội đồng ý.

 

Lưu tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III.

Về trang mục lục

Trở về đầu trang