NỘI QUY KỲ HỌP THỨ 2, QUỐC HỘI KHOÁ I
TỪ NGÀY 28-10 ĐẾN NGÀY 9-11-1946
Chương I
CHỦ TỊCH ĐOÀN, THƯ KÝ ĐOÀN VÀ TRẬT TỰ ĐOÀN
Điều 1. Quốc hội bầu ra một Chủ tịch đoàn, một thư ký đoàn và một trật tự đoàn. Chủ tịch đoàn điều khiển khóa họp của Quốc hội. Thư ký đoàn lập biên bản các phiên họp. Trật tự đoàn giúp đỡ Chủ tịch đoàn giữ trật tự và kỷ luật trong các buổi họp.
Chủ tịch đoàn gồm có 5 người. Trưởng đoàn Chủ tịch là Chủ tịch Quốc hội.
Thư ký đoàn gồm có 6 người.
Trật tự đoàn gồm có 12 người.
Cuộc bầu cử sẽ bỏ phiếu kín. Trưởng đoàn Chủ tịch bầu riêng. Các Chủ tịch khác, Thư ký và trật tự viên bầu theo lối liên danh đầu phiếu.
Đại biểu nào được đa số tuyệt đối thì trúng cử. Nếu ai không được đa số tuyệt đối thì phải bầu lại. Lần này thì cần đa số tương đối.
Các đoàn thư ký và trật tự tự bầu lấy trưởng đoàn. Chủ tịch Quốc hội giới thiệu các người trưởng đoàn ấy để Quốc hội truy nhận.
Chương II
CÁC TIỂU BAN
Mục A : Số và thời hạn làm việc của các tiểu ban
Điều 2. Tùy theo nhu cầu, Quốc hội cử ra các tiểu ban thí dụ như tiểu ban Hiến pháp. Quốc hội định thời hạn làm việc cho các tiểu ban.
Điều 3. Trừ những trường hợp đặc biệt do Quốc hội quyết định mỗi đại biểu chỉ đồng thời được cử vào hai tiểu ban là cùng. Đại biểu có chân trong hai tiểu ban chỉ có thể là ủy viên thuyết trình của một tiểu ban mà thôi
Mục B : Cách tổ chức
Điều 4. Trong cuộc bầu các ủy viên vào các tiểu ban, lượt bầu thứ nhất nếu ai không được đa số tuyệt đối thì phải bầu lại. Trong cuộc bầu lại chỉ cần đa số tương đối.
Điều 5. Thành lập xong, các tiểu ban được Chủ tịch Quốc hội triệu tập ngay. Công việc đầu tiên của tiểu ban là bầu ra một ban điều khiển gồm có:
- 1 Trưởng ban;
- 1 Phó Trưởng ban;
- 1 Uỷ viên thuyết trình.
Điều 6. Mỗi tiểu ban có một phòng Hội đồng riêng và một ban hành chính gồm có: thư ký, tốc ký giúp việc. Công việc của ban
ấy là:1- Thảo biên bản thư từ;
2- Giữ hồ sơ, công văn, tài liệu;
3- Thảo thông cáo tóm tắt tình hình công việc của ủy ban để gửi đăng lên công báo.
Ban hành chính đặt dưới quyền thư ký đoàn.
Điều 7. Nếu cần các tiểu ban có thể mời các nhà chuyên môn làm cố vấn cho mình trong việc nghiên cứu các vấn đề khó khăn.
Các cố vấn chuyên môn thu thập tài liệu, giúp đỡ ý kiến không có quyền biểu quyết.
Mục C : Cách hoạt động
Điều 8. Các tiểu ban sửa soạn các công việc cho Quốc hội. Quốc hội chỉ họp đại hội đồng thảo luận khi nào đã nhận được tờ trình của tiểu ban.
Điều 9. Phải có ít nhất là 2 phần 3 số ủy viên bỏ phiếu thì các quyết nghị của tiểu ban mới có giá trị.
Nếu không, thì lần sau, chỉ cần một nửa số ủy viên bỏ phiếu là đủ.
Các buổi họp phải có biên bản.
Điều 10. Vấn đề gì không bàn ngay thì giao cho một tiểu ban thẩm xét. Chủ tịch đoàn phân phát các dự án đã nhận được cùng các hồ sơ tài liệu cho các tiểu ban.
Đại biểu nào cũng có quyền xem xét các hồ sơ tài liệu đã giao cho các tiểu ban, nhưng không được làm ngăn trở công việc của tiểu ban.
Đại biểu nào cũng có quyền gửi đến tiểu ban những điều nhận xét của mình về các dự án mà tiểu ban đang nghiên cứu.
Điều 11. Mỗi tiểu ban khi đã nghiên cứu xong một dự án thời ủy viên thuyết trình của tiểu ban làm một tờ trình rõ ràng về dự án đó.
Điều 12. Trong tờ trình cho Quốc hội, tiểu ban thuyết trình phải ghi các lời phản đối hay đề nghị của thiểu số.
Thiểu số trong tiểu ban có quyền cử đại biểu đến bênh vực chủ trương của mình trước Quốc hội.
Sau ủy viên thuyết trình, người đại diện cho thiểu số được quyền nói trước các đại biểu khác.
Điều 13. Tờ trình của tiểu ban phải mang trình trước Quốc hội trong buổi họp công khai.
Điều 14. Nếu không có trường hợp gì đặc biệt khiến phải quyết định trái lại thì Chủ tịch Quốc hội cho mang tờ trình ra thảo luận.
Điều 15. Sau khi Quốc hội đã biểu quyết về các dự án rồi thì các tài liệu cùng biên bản của các tiểu ban đều chuyển sang phòng lưu trữ công văn của Quốc hội.
Điều 16. Các tiểu ban họp kín, không cho người ngoài vào nghe, cũng không công bố biên bản nhưng có thể thông cáo tình hình công việc của mình trên công báo.
Chương III
THƯỜNG VẤN VÀ CHẤT VẤN
Điều 17. Có hai phương pháp hỏi Chính phủ: thường vấn và chất vấn.
Các vị Bộ trưởng có thể viện lợi ích tối cao của Quốc gia mà không đáp lại, hay yêu cầu một thời hạn để thâu thập những tài liệu cần thiết.
Điều 18. Thường vấn gồm bút vấn và khẩu vấn, mục đích muốn Chính phủ giải thích vài chi tiết về hành chính, ngoại giao, v.v..
Đại biểu nào cũng có quyền hoặc bút vấn hoặc khẩu vấn các vị Bộ trưởng.
Các bút vấn phải tóm tắt và đệ trình vị Chủ tịch Quốc hội. Bút vấn cùng lời đáp giải của vị Bộ trưởng phải được công bố.
Các vị Bộ trưởng có quyền ghép một hay nhiều bút vấn của một vấn đề, cùng một quan niệm để tiện trả lời.
Quốc hội định thời hạn để đệ trình các bút vấn.
Mỗi buổi họp dành một giờ là cùng cho các vị đại biểu khẩu vấn Chính phủ.
Muốn khẩu vấn Chính phủ phải biên tên trước. Đặt một câu hỏi không được nói quá 5 phút. Chỉ có vị đại biểu đặt câu hỏi có quyền đáp lời vị Bộ trưởng mà vị đại biểu ấy khẩu vấn.
Điều 19. Chất vấn có tính cách chung vì vậy đại biểu nào dù không đặt đơn chất vấn cũng có quyền tham gia thảo luận.
Các vị đại biểu không có quyền chất vấn lẫn nhau.
Quốc hội định số giờ hay số buổi họp dành cho các cuộc chất vấn Chính phủ.
Chủ tịch đoàn phải thông báo cho Quốc hội biết ngày mà các đơn chất vấn sẽ mang ra thảo luận.
Điều 20. Sau khi Chính phủ báo cáo, Chủ tịch đoàn định thời hạn phải đệ trình các đơn chất vấn.
Đại biểu nào cũng có quyền đệ đơn chất vấn. Những đơn ấy Chủ tịch đoàn sẽ xét có nên ghi vào chương trình nghị sự hay không. Những đơn chất vấn không được nghi vào chương trình nghị sự sẽ xếp vào hàng bút vấn.
Điều 21. Nếu đơn chất vấn được ghi vào chương trình nghị sự người đại biểu được nói trong 20 phút là cùng để trình bày ý kiến của mình.
Điều 22. Sau cuộc chất vấn, Chính phủ hay một số có ít nhất là 50 đại biểu có quyền xin biểu quyết tín nhiệm hay không tín nhiệm. Trong trường hợp ấy, Quốc hội biểu quyết ngay.
Chương IV
CÁCH THỨC HỘI HỌP CỦA QUỐC HỘI
Điều 23. Phải có ít nhất là quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội thời buổi họp của Quốc hội mới có giá trị.
Điều 24. Quốc hội họp công khai, công chúng và nhà báo được vào dự thính. Muốn được dự thính phải ghi tên trước để nhận giấy phép của Chủ tịch Quốc hội.
Quốc hội có thể họp kín khi nào xét cần. Biểu quyết họp kín do Chủ tịch đoàn hay một số ít nhất là 20 đại biểu có mặt ở phiên họp đề nghị và phải được đại đa số bỏ phiếu ưng thuận.
Điều 25. Khi Quốc hội biểu quyết họp kín, vị Chủ tịch ra lệnh cho công chúng rút ra khỏi phòng họp. Biên bản buổi họp kín không đăng vào công báo và phải niêm phong giữ ở Phòng Lưu trữ công văn của Quốc hội.
Điều 26. Những đại biểu tiết lộ những điều bí mật trong các phiên họp kín sẽ do Chủ tịch đoàn truy tố và Quốc hội xét xử.
Điều 27. Chương trình nghị sự do Chủ tịch đoàn khởi thảo và đưa ra Quốc hội duyệt y. Các trưởng ban của các tiểu ban và các vị Bộ trưởng có quyền yêu cầu được phát biểu ý kiến trước Chủ tịch đoàn trong việc thảo chương trình nghị sự.
Điều 28. Những vấn đề đã thảo luận phiên họp trước nhưng còn bỏ dở được ghi trước các vấn đề khác.
Điều 29. Những vấn đề mang biểu quyết không phải thảo luận được ghi trước. Nhưng nếu một số 20 đại biểu trong phiên họp đứng lên yêu cầu thảo luận, vị Chủ tịch phải tuyên bố rút vấn đề ấy ra và hoãn đến một phiên họp sau sẽ xét.
Điều 30. Đại biểu nào cũng có quyền đề nghị với Chủ tịch đoàn ghi một hay nhiều vấn đề vào chương trình nghị sự. Chủ tịch đoàn định đoạt ghi hay không ghi các vấn đề ấy vào chương trình nghị sự.
Nếu một số 20 đại biểu xin ghi một vấn đề vào chương trình nghị sự thời Chủ tịch đoàn phải ghi vấn đề ấy vào bản sự thảo chương trình nghị sự.
Chương V
PHƯƠNG PHÁP THẢO LUẬN
Điều 31. Trước khi bàn tới một vấn đề, một số 20 đại biểu trở lên có quyền xin hoãn thảo luận. Người đại diện cho số đại biểu ấy được quyền trình bầy lý do xin hoãn trong 10 phút là cùng rồi Quốc hội biểu quyết ngay hoãn hay không hoãn.
Điều 32. Trước khi thảo luận, tác giả bản dự án vẫn có quyền rút bản dự án nhưng nếu một số 20 đại biểu xin giữ lại thì vấn đề vẫn mang ra thảo luận.
Điều 33. Sau khi ủy viên thuyết trình báo cáo thì Quốc hội bắt đầu thảo luận về dự án.Quốc hội thảo luận về nguyên tắc trước các chi tiết.
Điều 34. Những tu bổ án phải đưa cho ủy ban trước khi thảo luận.
Tác giả một tu bổ án bị ủy ban bác bỏ có quyền bênh vực ý kiến của mình trong 15 phút là cùng.
Sau đó Quốc hội biểu quyết ngay.
Quốc hội thảo luận và biểu quyết về mỗi điều khoản và các tu bổ án về điều khoản ấy.
Điều 35. Sau khi biểu quyết, từng điều khoản một, Chủ tịch đọc toàn thể bản dự án và yêu cầu Quốc hội biểu quyết về toàn thể bản dự án.
Vị Chủ tịch tuyên bố kết quả bằng câu “Quốc hội chuẩn y” hay “Quốc hội bác bỏ”.
Điều 36. Những dự án mang ra biểu quyết không thảo luận, phải được công bố 24 giờ trước hôm mang ra thảo luận.
Chương VI
QUYỀN NGÔN LUẬN
Điều 37. Trong những trường hợp sau này không một đại biểu nào được quyền đứng nói:
a) Khi vị Chủ tịch hỏi ý kiến Quốc hội về vấn đề có nên truất quyền ngôn luận một đại biểu bị 2 lần phê bình vì nói ra ngoài đầu đề;
b) Khi Quốc hội sắp biểu quyết xem có nên tuyên bố cảnh cáo và tạm thời trục xuất một vị đại biểu;
c) Khi Quốc hội định bỏ phiếu xem có nên họp kín không;
d) Khi Quốc hội sắp biểu quyết xem có nên giao về ủy ban thẩm xét một dự án;
đ) Những vấn đề ghi trong chương trình nghị sự với điều kiện biểu quyết không thảo luận;
e) Khi Quốc hội sắp biểu quyết xem đã đến lúc tuyên bố kết thúc cuộc thảo luận chưa.
Điều 38. Vị Chủ tịch tuyên bố khai mạc thì cuộc thảo luận mới bắt đầu. Trong khi thảo luận vị Chủ tịch theo thứ tự ghi tên xin nói mà cho các đại biểu lần lượt phát biểu ý kiến.
Điều 39. Chỉ toàn thể Quốc hội mới đủ thẩm quyền biểu quyết kết thúc buổi thảo luận.
Vị Chủ tịch hoặc do sáng kiến mình hoặc do một đại biểu đề nghị hỏi ý kiến Quốc hội.
Điều 40. Đại biểu bất cứ trong trường hợp nào chỉ được nói sau khi vị Chủ tịch cho phép.
Điều 41. Bộ trưởng hay ủy viên Chính phủ, ủy viên thuyết trình của các ủy ban được nói ngay mỗi khi tỏ lời yêu cầu.
Điều 42. Vị diễn giả đứng tại chỗ mình mà nói hay nói từ diễn đàn. Vị Chủ tịch có quyền mời diễn giả lên diễn đàn, vị này phải tuân theo. Diễn giả giữ quyền nói cho đến khi vị chủ tịch ngắt lời mới thôi.
Vị Chủ tịch ngắt lời đại biểu nào nói ra ngoài đầu đề.
Điều 43. Các đại biểu không được tự tiện ngắt lời diễn giả.
Các đại biểu không được nói đến đời tư của nhau.
Các vị đại biểu không được xúc phạm đến vị Chủ tịch nước Việt Nam.
Điều 44. Trước khi mở cuộc thảo luận mỗi nhóm có từ 12 đại biểu trở lên có thể ký chung vào một lá thơ yêu cầu Chủ tịch đoàn công nhận người phát ngôn nhân cho nhóm mình.
Chủ tịch đoàn tuyên bố tên những vị phát ngôn nhân của các nhóm.
Điều 45. Trong khi thảo luận:
a) Các Bộ trưởng hay ủy viên Chính phủ, ủy viên thuyết trình của các ủy ban được nói 30 phút là cùng;
b) Các phát ngôn nhân của các nhóm nếu ghi tên xin nói trước được nói 20 phút là cùng, nếu không ghi tên xin nói trước thời chỉ được nói 10 phút là cùng;
c) Các đại biểu thường nếu ghi tên xin nói trước được nói 10 phút là cùng, nếu không ghi tên trước xin nói trước thời chỉ được nói 5 phút là cùng;
d) Tác giả một bản tu bổ án khi thuyết trình được nói 15 phút là cùng.
Chương VII
CÁCH THỨC BIỂU QUYẾT
Điều 46. Vị Chủ tịch phải hoàn toàn khách quan khi đặt câu hỏi để mang ra biểu quyết.
Mỗi đại biểu có quyền đề nghị chia câu hỏi thành từng đoạn để biểu quyết riêng, Quốc hội định ngay bằng cách giơ tay không thảo luận.
Điều 47. Quốc hội tùy từng vấn đề, tùy từng trường hợp sẽ dùng một trong hai cách biểu quyết sau này: giơ tay hay bỏ phiếu kín. Không một đại biểu nào được nói trong khi biểu quyết.
Điều 48. Khi biểu quyết bằng cách giơ tay các trật tự viên đếm số giơ tay và báo cáo kết quả cho vị Chủ tịch.
Điều 49. Trong cách thức bỏ phiếu kín vị Chủ tịch yêu cầu đại biểu an tọa, xong cho phát phiếu bầu, các đại biểu ngồi tại chỗ, những trật tự viên mang hòm phiếu đến nhận lá phiếu. Sau khi vị Chủ tịch tuyên bố cuộc đầu phiếu kết thúc, các trật tự viên đưa hòm phiếu lên trước diễn đàn, các viên thư ký mở hòm kiểm phiếu và truyền đạt qua vị Chủ tịch tuyên bố kết quả.
Điều 50. Chỉ những đại biểu có mặt mới được bỏ phiếu.
Điều 51. Phải có quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội dự vào cuộc biểu quyết thời cuộc biểu quyết của Quốc hội mới có giá trị.
Nếu không đủ số ấy, cuộc biểu quyết phải hoãn đến buổi họp sau; lần này phải có ít nhất 1/3 tổng số đại biểu Quốc hội dự vào cuộc biểu quyết thời cuộc biểu quyết mới có giá trị.
Điều 52. Các bản dự án mà Quốc hội đem ra biểu quyết phải được đa số tuyệt đối mới coi là được Quốc hội công nhận.
Nếu lần biểu quyết thứ nhất số phiếu thuận và số phiếu kháng ngang nhau, thời phải biểu quyết lần hai. Lần này nếu hai số phiếu thuận và kháng lại ngang nhau, thời phiếu của vị Chủ tịch bên nào là bên ấy thắng.
Về các cuộc bầu cử nhân viên các ủy ban nếu lần bầu thứ nhất không được đa số tuyệt đối thời lần bầu cử thứ nhì cần đa số tương đối.
Điều 53. Vị Chủ tịch phải tuyên bố: tổng số phiếu, số phiếu thuận, số phiếu kháng, số phiếu trắng, số phiếu không hợp lệ. Xong vị Chủ tịch phải tuyên bố kết quả cuộc bỏ phiếu.
Nếu là cuộc bầu nhân viên, vị Chủ tịch tuyên bố tên các vị trúng cử và số phiếu của mỗi vị được trúng cử.
Chương VIII
KỶ LUẬT TRONG QUỐC HỘI
Mục I : Trật tự, Công an và kỷ luật trong Quốc hội
Điều 54. Vị Chủ tịch điều khiển công việc công an và trật tự trong phòng họp Quốc hội. Vị Chủ tịch xác định lực lượng cảnh binh cần thiết.
Điều 55. Người dự thính nào làm mất trật tự sẽ phải trục xuất ra khỏi phòng họp.
Điều 56. Không ai được mang khí giới trong phòng họp Quốc hội.
Mục II : Cách trừng phạt
Điều 57. Cách trừng phạt để buộc đại biểu phải trọng kỷ luật trong Quốc hội gồm có: phê bình thường, phê bình có ghi tên vào biên bản, cảnh cáo thường, cảnh cáo và trục xuất tạm thời ra khỏi phòng họp.
Điều 58. Sẽ bị phê bình đại biểu nào không tôn trọng trật tự.
Điều 59. Sẽ bị phê bình và ghi vào biên bản đại biểu nào trong cùng một buổi họp đã bị phê bình một lần rồi.
Điều 60. Chỉ có chủ tịch Quốc hội là có quyền phê bình. Đại biểu nào chưa được phép nói mà đã bị phê bình thì đến cuối buổi họp mới được phép nói để biện bạch cho mình trừ ra nếu Chủ tịch quyết định trả lại.
Điều 61. Khi một đại biểu đã bị phê bình hai lần trong một buổi họp thời theo lời đề nghị của Chủ tịch Quốc hội có thể cấm không cho nói đến hết buổi họp Quốc hội biểu quyết bằng cách giơ tay không thảo luận.
Điều 62. Bị cảnh cáo:
a) Đại biểu nào sau khi bị phê bình có ghi vào biên bản vẫn không chịu tuân theo kỷ luật;
b) Đại biểu nào ở trong Quốc hội đã gây ra một cuộc rối loạn;
c) Đại biểu nào thóa mạ hay khiêu khích một hay nhiều đại biểu.
Điều 63. Bị cảnh cáo và trục xuất tạm thời khỏi phòng hội đồng đại biểu nào:
1- Đã hai lần bị phê bình trong một buổi họp;
2- Đã thóa mạ Quốc hội hay Chủ tịch Quốc hội;
3- Đã thóa mạ, khiêu khích hay hăm dọa một hay nhiều nhân viên trong Chính phủ;
4- Đã thóa mạ Chủ tịch nước Việt Nam.
Điều 64. Đại biểu nào bị cảnh cáo và bị trục xuất tạm thời không được tham gia vào công việc của Quốc hội và không được bước chân vào phòng Hội đồng luôn hai buổi họp sau.
Quyết nghị của Quốc hội tuyên bố cảnh cáo thường hay cảnh cáo và trục xuất tạm thời đều ghi vào biên bản.
Lưu tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III.
|
|